Yêu thương và yêu thương mãi

Bàng mạc trong thông điệp Phục Sinh vẫn âm vang một chuỗi những hy vọng và yêu thương.  Hy vọng để tốt hơn, hy vọng để vui tươi hơn, hy vọng để an bình hơn, hy vọng cho những thực tại thiêng liêng vĩnh hằng, không những cho bản thân mà còn cho gia đình, cho đoàn thể, cho cộng đoàn, và cho mọi người. Những hy vọng và yêu thương đó chất chứa thật nhiều những tâm tình.  Và các bài đọc trong mùa Phục Sinh ít nhiều vẽ lên những đường nét hy vọng cho những người khốn khổ, đau đớn.  Giáo Hội tiên khởi sau khi Chúa Giêsu về trời đã trải qua thật nhiều những sóng gió chông gai thử thách.  Nhưng các môn đệ của Đức Kitô vẫn một niềm kiên trung theo Chúa, và rao giảng Tin Mừng Chúa Đã Sống lại.  Cộng Đoàn Kitô Hữu tiên khởi vẫn đứng vững trước sóng gió ba đào.

Tiếp nối bước chân của các tông đồ và các môn đệ, trong dòng lịch sử nhân loại và Giáo Hội đã xuất hiện không biết cơ man nào là những nhân chứng thật sống động hùng hồn đi rao truyền Tin Mừng Cứu Độ, Tin Mừng Phục Sinh và Tin Mừng Yêu Thương.  Nhất nhất tất cả hình như chỉ quy vào một điểm đánh động tâm tư tôi thật nhiều khi đọc lại Bài Phúc Âm của Chúa Nhật thứ 5 Mùa Phục Sinh (Năm C).  Lời nhắn nhủ nhẹ nhàng nhưng tha thiết và không kém phần cương quyết như một lệnh truyền của Chúa Giêsu trước khi bước vào cuộc thương khó: “ Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.  Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau.”  Chỉ vỏn vẹn có mấy câu thôi mà gói trọn cả một phương thức sống, không những cho người Kitô Hữu mà còn cho tất cả mọi người, phương thức sống như một câu hát nào đó tôi chợt nhớ: “ Hãy cố yêu đời/yêu người mà sống…”

Yêu, tất cả chúng ta không lạ gì về từ ngữ này.  Yêu, tất cả mọi người đều biết và cảm nhận được, từ một em bé cho đến một cụ già.  Yêu, một điều cần thiết cho sự hiện hữu của con người, bởi vì, mượn lời của một người bạn, “sống không có tình yêu là chết mà biết thở…” Như vậy, giới răn yêu thương Đức Kitô để lại phải chăng chẳng mới mẻ gì.  Hay có mới mẻ thì cũng chỉ là Thầy mình mới nói lên đó thôi… Và biết đâu các tông đồ trong đêm trước khi Chúa Giêsu bước vào thương khó cũng chỉ nghe giới răn mới này để mà nghe thôi, mọi sự để sau rồi tính, bây giờ lo ăn uống trò chuyện cho xong bữa tiệc vượt qua này cái đã….

Nhưng rồi các tông đồ và môn đệ đã cảm nhận thật sâu xa giới răn yêu thương mới này, yêu thương như Thầy đã yêu thương.  Thầy yêu thương như thế nào mãi cho tới khi tắt thở trên Thánh Giá, rồi sau đó sống lại hiện ra với các Tông Đồ và môn đệ giúp các ngài hiểu hơn về thực tại yêu thương mới qua diễn trình cứu độ; các tông đồ môn đệ mới thực sự hiểu ra để rồi xả than vì danh thánh đi rao giảng Tin Mừng, chấp nhận tất cả: đau đớn, khinh bỉ, bắt bớ, bị bỏ rơi, tù đày, hành hạ và….giết chết.  Và các tông đồ môn đệ vẫn một lòng trung trinh theo bước chân Chúa Giêsu đã đi, bằng đời sống và sinh hoạt Cộng Đoàn, thể hiện và sống tình yêu thương theo phương thức mới Thầy Chí Thánh để lại: Yêu như Thầy đã yêu… cho đến hy sinh cả mạng sống vì người mình yêu.

Nhìn lại Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam Brisbane, tôi cảm nhận như vẫn còn đó những dấu tích của khổ đau, của bất an, của tủi hờn, của những nhiễu nhương đời người Kitô hữu xa xứ.  Nhưng cũng từ trong những thực tế không mấy tích cực đó, nếu không muốn nói là qúa thê thảm, vẫn ẩn dấu một sức sống trong tin tưởng, hy vọng và yêu thương.  Cộng Đồng vẫn tồn lại, dù thật rách nát sau cái ngày định mệnh mồng 1 tháng 1 năm 2005, vẫn cứ sống can trường trong vâng lời, trong hy vọng và ẩm ỉ đâu đó một mời gọi tồn tại trong yêu thương.  Vẫn còn người tới Trung Tâm đọc kinh cầu nguyện, vẫn còn những bàn tay tham gia đóng góp cho sinh hoạt và công tác trong Cộng Đồng, vẫn không thiếu những tâm hồn thành tâm cùng hy vọng cho một tương lai khả quan cho Cộng Đồng dù rằng mọi người chưa biết được sẽ đi về đâu, vẫn còn đó những em bé, những cục già, những thanh niên, những thiếu nữ, những thiếu nhi lui tới hòa quyện câu kinh lời ca, nhất là trong những dịp Trung Tâm được phép cử hành thánh lễ (hiện tại Đức Tổng Giám Mục chỉ chấp nhận cho 17 thánh lễ trong một năm, một quyết định thật đau đớn với cá nhân tôi).  Dĩ nhiên, cũng không thiếu những định kiến không tốt đẹp về những người tới Trung Tâm, cũng không thiếu những bất đồng quan điểm giữa những người thường xuyên tơí Trung Tâm nguyện kinh và những người lâu lâu mới tới một lần, cũng không thiếu những khác biệt về quan điểm lập trường.  Nhìn chung, theo tôi, vẫn luôn còn những khó khăn, những ngộ nhận, những xung khắc, nhưng Cộng Đồng vẫn tồn tại cho tới hôm nay, và một niềm tin tưởng tiếp tục tồn tại về sau…

Nếu ngày xưa, sau khi sống lại, Chúa Giêsu trong lần hiện ra thứ ba với các tông đồ và môn đệ tại bờ hồ Tibêria (Phúc Âm Chúa Nhật thứ 3 Phục Sinh năm C) đã dùng yếu tố tình yêu để thẩm định Phêro trước khi cắt đặt ngài coi sóc đoàn chiên của Chúa với ba lần hỏi Phêro, “Con có yêu mến Thầy không?” thì ngày nay trong bối cảnh Cộng Đồng hiện tại, thiết tưởng mỗi từng người trong Cộng Đồng nên bình tâm chuẩn bị trả lời cho câu hỏi “Ông/bà/anh/chị/bạn có yêu mến Giêsu qua việc yêu mến và tham gia sinh hoạt Cộng Đoàn hay không?” và nếu câu trả lời là có, tôi thiết nghĩ chúng ta hãy trả lời với lệnh truyền của Đức Kitô: “ Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.  Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau.”

Giới luật Yêu Thương là giới luật gồm tóm các giới luật.  Trong khung cảnh của người Công Giáo Việt Nam tha hương, tôi bắt gặp bảy điều tâm niệm thật hữu lý, chí tình và ý nghĩa cho chính bản thân tôi từ suy tư của tác giả Nguyễn Văn Thành ở Thụy Sĩ.  Xin ghi ra đây với hy vọng mang lại chút ánh sáng soi dẫn cho sinh hoạt Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam Brisbane giữa mọi người với nhau:
 1.  Bất kỳ một câu hỏi nào được nêu lên trong lòng Đất nước  (hay Cộng Đoàn)
YÊU THƯƠNG là câu trả lời.

2.  Bất kỳ một vấn đề gì bắt đầu hiện hình giữa Anh Chị Em Đồng Bào với nhau, YÊU THƯƠNG là nhịp cầu nối kết và hàn gắn.

3.  Bất kỳ một cơn bệnh nào đang đe dọa và hoành hành trong cuộc đời của mỗi người, YÊU THƯƠNG là thang thuốc đầu tiên và cuối cùng.

4.  Bất kỳ một nỗi khổ tâm nào đang đe dọa tình hình của Nước Non (hay của Cộng Đoàn), YÊU THƯƠNG là cánh cửa mở ra một con đường đi tới.

5.  Bất kỳ một xúc động sợ hãi nào, đang trao dâng và lan tỏa khắp tứ phía, YÊU THƯƠNG là vòng tay ôm ẵm, hay là bàn tay vỗ về, thoa dịu.

6.  Bất kỳ một vết thương nào đang lở lói trong tâm hồn của người trên cũng như kẻ dưới, YÊU THƯƠNG là khuôn mặt đoái nhìn, chia sẻ, đồng cảm và tha thứ.

7.  YÊU THƯƠNG luôn luôn là câu trả lời trong mọi tình huống tranh chấp và xung đột, cho người bên này, cũng như đối với người bên kia… bởi vì chỉ có YÊU THƯƠNG là Tất Cả Bản Sắc Đích Thực trong cuộc đời làm người của chúng ta.


Rồi tác giả kết luận : “ YÊU THƯƠNG như vậy không phải chỉ là lời tuyên xưng ở đầu môi chót lưỡi. Trái lại, đó là một động từ hành động, là con đường đi tới, là lương thực nuôi sống và hơi thở ra vào của tất cả những ai mang dòng máu Lạc Hồng trong huyết quản. ”

Đâu đây âm vang trong lòng tôi một mời gọi cho đời Kitô hữu : Hãy Yêu Thương và Yêu Thương mãi…Yêu Thương theo mẫu gương chí ái tuyệt vời của chính đấng là chủ tế của Yêu Thương, Đấng đã yêu đến cùng không chừa lại một điều gì cho chính bản thân Ngài, kể cả mạng sống.

Chút tâm tình tản mạn vụn vặt dịp Phục Sinh 2007

Vọng Nhân