Đâu là khuôn mặt của tôi?

Chiều hôm đó tan sở, chàng phải cuốc bộ đi cùng đoàn người ra ga xe lửa. Mấy hôm nay chân tay chàng cứ như là bị trói vì chiếc xe ‘mắc dịch cà gật cà tang’ phải nằm ga-ra mất hơn tuần. Dù sao hôm nay chàng cũng phấn chấn hơn đôi chút vì thợ máy gọi chàng sáng nay là xe đã xong. Vậy là chàng đã phải mất cỡ mười ngày leo xe lửa đi đi về về.

Hôm nay lại thêm một chuyện nữa, là chàng phải lội bộ đi đường khác vì con đường quen mấy ngày trước bị chắn lối. Chàng lầm lũi bước theo đoàn người và, chẳng hiểu vì lý do gì không giải thích được, chàng thấy mình bước vào một nhà thờ. Ðã từ lâu khái niệm về tôn giáo mất hẳn trong con người của chàng. Ðối với chàng tôn giáo là một điều gì đó thật xa vời trừu tượng dù rằng chàng cũng đã được rửa tội từ nhỏ. Chàng cho rằng đó là quyết định của cha mẹ chứ không phải là của chàng. Vì vậy khi đặt chân vào ngôi thánh đường trang nghiêm cổ kính này, chàng chẳng có mảy may gì về cảm giác đặt chân vào một nơi thờ phượng thánh hiến. Chàng thấy khá mệt mỏi sau một ngày làm việc, và hình như sau đoạn đường thoai thoải đi lên tới ngôi nhà thờ. Chàng nhủ thầm: “Ừ thì cũng tốt, khung cảnh êm đềm trầm lặng này thật thích hợp để ngồi nghỉ ngơi xả hơi một lát vậy!” Chàng tìm một chỗ ngồi vừa ý, tháo cái ‘ba lô’ trên vai ra và thư thả an vị.

Vừa ngồi xuống ghế, chàng bắt gặp ngay một hình ảnh, đối với chàng, không mấy thú vị cho lắm mà vẫn cứ như là thôi miên chàng, hình ảnh một thập tự gía ngay giữa gian cung thánh. Trên đó treo một hình người máu me be bét, khuôn mặt dập nát, đầu đội mão gai, một hình nhân quằn quại trong đau khổ, một hình người tàn tạ bị hành hạ, bị bỏ rơi và bị chết. Chàng khựng lại một lúc. Trong phút chốc ngạc nhiên sững sờ, những hình ảnh hoặc chàng đã xem trong sách báo, hoặc đã chứng kiến, như chạy về trong tâm trí chàng. Chàng đã từng xem những hình ảnh đàn ông, đàn bà và phụ nữ bị thảm sát ở Cam Bốt. Họ cũng bị bỏ rơi. Chàng cũng đã thấy nhiều bức hình về những con người nghèo khổ, đói rách hoặc trên ti vi hay trên báo chí như ở Châu Phi, Châu Á, và trong các quốc gia đệ tam nghèo đói. Nơi những tấm hình này, chàng có thể thấy ruồi muỗi bu đầy trên những con người tội nghiệp thê thảm đáng thương. Những người này chỉ đang chờ một điều, Thần Chết. Chàng cũng có một dịp chứng kiến cảnh một số trẻ nhỏ đi lượm rác, ‘mưu sinh’ độc nhất của các em lúc bấy giờ, mà vẫn bị những người quyền thế giàu có đánh đập rượt đuổi. Có lần suýt nữa thì chàng lôi thôi chuyện lớn với một tên nhà giàu hách dịch, keo kiệt, láu cá, phách lối và vô nhân đạo khi chàng bênh vực cho một em nhỏ đang dùng vạt áo lau máu mũi sau khi bị tên này đánh vì đã ‘xâm phạm thùng rác’ của nhà nó. Không biết may hay rủi, nhưng nếu lần đó tên nhà giàu không vào nhà mà đứng đó ra vẻ ta đây tiếp tục ‘to mồm’ mắng chửi lung tung, nói năng không kể trên dưới, mất phép lịch sự và vô giáo dục thì chàng… làm thật!!!

Người trai trẻ này tiếp tục nhìn thật kỹ vào khuôn mặt treo trên cây thập giá. Từ từ, rất chậm rãi, những ý nghĩa sâu kín về thương khó, về khổ nạn tự nó bắt đầu vén màn khai thông cho lòng trí chàng trai trẻ. Hồi nhỏ chàng cũng có đi học giáo lý và chỉ nghe mang máng là Chúa Giêsu đã chịu đau khổ và chịu chết vì phần rỗi nhân loại. Nhưng đó là chuyện quá khứ. Còn bây giờ chàng hình như thấy nó huyền nhiệm và ý nghĩa sâu xa hơn nhiều qua những khai thông mới lạ từ một cõi xa xăm nào đó dội về trong tâm lòng chàng trai.

Và chàng bắt đầu gặp thấy trong cái hình hài bị hành hạ tàn tạ chết dần chết mòn kia hình ảnh một bà mẹ khóc thương những đứa con chết vì bom đạn ở Trung Ðông hay trong các cuộc chiến, một đứa trẻ chết đói ở Châu Phi, niềm đau tột cùng của cha mẹ có những đứa con yêu quí vĩnh viễn từ giã cõi đời trong một tai nạn, những đớn đau dai dẳng của các bệnh nhân tâm thần cũng như thể chất, sự quằn quại vì cơn đói của những đứa trẻ trong các gia đình nghèo đói túng cực, nỗi cô đơn dường như vô tận của những con người đi bên lề xã hội, của những cụ ông cụ bà trong các viện dưỡng lão. Tất thảy những nỗi thống khổ đớn đau của nhân loại như thể gom hết lại để dành riêng cho con người bị treo trên cây thập tự giá kia gánh chịu.

Rồi chàng thẫn thờ nhìn chung quanh và thấy nhiều người, cả đàn ông lẫn đàn bà, thanh niên thanh nữ ở tuổi chàng cũng có, lâu lâu có vài em nhỏ. Mọi người vào ra cầu nguyện rất thành kính sốt sắng. Hình như họ đang sở hữu và nắm bắt được điều gì đó bí mật quí giá lắm thì phải. Trông họ thật khoan khoái an bình trong ngôi nhà thờ này. Mọi người như rất gần gũi, thân thiện, biểu hiện một cái gì đó rất là yêu thương. Chàng còn nhìn thấy một bà cụ già bước từng bước mệt nhọc và chậm rãi tới gần cây thánh giá, đứng dưới đó một hồi trầm mặc miên man trong suy nguyện. Sau đó, bà cụ hôn lên những vết thương của Ðức Kitô và bước đi. Chàng đọc được trên khuôn mặt của cụ bà niềm an ủi đỡ nâng từ một tình yêu rất vĩ đại cao vời. Lại còn có cả một em nhỏ kính cẩn bái lạy trước thánh giá. Thường thì trẻ con rất năng động và táy máy mà sao trước hình người này lại sốt sắng trang nghiêm như vậy.

Chàng tiếp tục quan sát. Trong khi quan sát, lòng trí chàng ra vẻ như được nâng cao. Chàng như cảm nhận được một thực tại khác với những gì chàng đang thấy tận mắt. Chàng đắm mình miên man trong dòng suy tư tâm tình đó. Lần đầu tiên trong đời sau một thời gian dài thật dài, chàng đang cầu nguyện. Cây thánh giá không còn là hiện thân quá thô bạo của sự chết, mà là biểu tượng cho tình yêu, sự sống và hy vọng. Thánh giá của hãi hùng khiếp sợ đã trở nên thánh giá của hy vọng; thân thể bị hành hình tàn tạ đó mang tính chất của thân xác cưu mang một đời sống mới; những vết thương sâu hoắm trở thành nguồn ơn tha thứ, chữa lành và hòa giải. Và chàng cứ miên man mãi với những tâm tình mới lạ, như cơn mưa rào tươi mát tưới gội mảnh vườn khô khan cằn cỗi sau một thời gian dài nắng hạn không còn dấu hiện của sự sống. Chàng cảm thấy mằn mặn trên đôi môi. Những giọt nước mắt biết ơn và sám hối từ từ lăn dài trên gò má, trên khuôn mặt đanh thép của chàng. Chàng buột miệng nói lẩm bẩm nho nhỏ như chỉ để cho chàng và Chúa nghe mà thôi: “Lạy Chúa, con đã đi hoang. Con ngàn lần tạ ơn vì tình yêu thương Chúa luôn dành cho con, về những vết thương và thương khó Chúa đã phải chịu cho con vì phần rỗi đời đời của con. Con có một mơ ước nhỏ nhoi là muốn rao truyền tình yêu thương của Chúa cho mọi người. Xin giúp con, lạy Chúa, trung thành với ước nguyện mang tình yêu Chúa đến cho mọi người bằng chính cuộc sống của con vì con không biết ăn nói…” Chàng tiếp tục nói, nói mãi với Ðấng Cứu Thế treo trên thánh giá trong ngôi nhà thờ cổ kính đó…

Cuối cùng khi nhập vào đoàn người đi về phía nhà ga lấy vé về nhà, chàng cảm nhận được một nguồn ơn, một sinh lực mới, một bình an sâu thẳm mà không ai trên thế gian này có thể cho chàng được. Trên xe lửa chàng bắt đầu làm một chuyện từ trước tới nay chưa hề làm: tự động nhường chỗ ngồi cho một người đàn ông lớn tuổi đang đứng. Chàng mỉm cười luôn miệng. Chàng đã được đổi mới thực sự…

Về đến nhà, mọi người trong nhà thấy chàng có vẻ khác lạ hơn mọi ngày, miệng huýt sáo vui vẻ, hát câu gì đó nho nhỏ. Thường ngày đi làm về, chàng bước thẳng một mạch lên phòng mình, chỉ lí nhí được mấy tiếng ‘hello’ với vài người trong nhà. Hôm nay, chàng cười thật tươi, chào hỏi mọi người niềm nở và, thật ngạc nhiên, chàng hỏi mẹ hôm nay là ngày gì. Mẹ chàng chưng hửng trả lời: “Con đi làm thì biết hôm nay là ngày thứ mấy rồi hỏi mẹ làm gì.” Chàng vui vẻ: “Mẹ ơi, con không hỏi mẹ là ngày thứ mấy vì con biết là Thứ Sáu rồi. Con hỏi mẹ hôm nay là ngày của tuần gì trong Lịch Phụng Vụ.” Mẹ chàng nói bâng quơ: “Mẹ không biết rõ. Mẹ chỉ biết là chúng ta đang ở trong những ngày cuối của Mùa Chay. Mẹ còn nhớ là cha xứ tuần trước trong thánh lễ nói Chúa Nhật này là Chúa Nhật Lễ Lá. Con có lễ với lạy gì nữa đâu mà hỏi mẹ vậy.” Chàng cười nói với mẹ: “Ngày mai con đi xưng tội và tuần này đi Lễ Lá với mẹ được không.” Mẹ chàng không tin được vào đôi tai của mình nhưng vẫn ôm lấy chàng thật chặt, ràn rụa nước mắt, và hỏi thêm cho chắc ăn: “Có thật không con???” Chàng ôm mẹ thật chặt như chưa từng chặt hơn và thì thào vào tai mẹ: “Con hiểu được tại sao ngày trước khi còn nhỏ cha mẹ đã lo rửa tội cho con. Chúa yêu thương con vô ngần. Từ đây, Chúa là gia nghiệp đời con.” Cả nhà im lặng nhìn hai mẹ con giọt vắn giọt dài. Mẹ chàng hớn hở nói với cả nhà: “Hôm nay nhà mình phải làm tiệc mừng. Ðể mẹ đi nấu ăn.” Ðêm đó, gia đình chàng rộn rã tiếng cười tới quá nửa đêm.

Hai hôm sau đi dự lễ với mẹ vì chàng tình nguyện chở mẹ đi lễ thay cho người chị vẫn thường làm chuyện này. Sau phần rước lá đến phần Phụng Vụ Lời Chúa gồm hai bài đọc và bài Thương Khó, chàng như bị mất hút trong đoàn người năm xưa trên đoạn đường từ Giêrusalem đến đỉnh đồi Can Vê.

Lẫn trong đoàn người đó, chàng có thể nhìn thấy rất nhiều khuôn mặt. Khuôn mặt rõ nét đầu tiên là khuôn mặt của Chúa Giêsu. Khuôn mặt này biến đổi từ lo âu trong Vườn Cây Dầu đến bình tĩnh khi đối diện với lính đến bắt, cho tới tha thứ lúc nhìn Phêrô, rồi khắc khổ và đau đớn tột cùng khi bị hành hạ, nhục mạ, đội mão gai, đánh đòn, vác thánh giá, bị đóng đinh và trút hơi thở cuối cùng. Chàng không hề thấy trên khuôn mặt này mảy may gì là tức giận oán hờn, mà chỉ là tha thứ và yêu thương. Thật không thể tưởng tượng được, quả là có một không hai. Chàng còn thấy khuôn mặt sám hối của Phêrô, khuôn mặt ân hận tìm cái chết của Giuđa, khuôn mặt nhu nhược của Philatô, khuôn mặt ngạo mạn khinh bỉ của Hêrôđê, khuôn mặt căm tức trịch thượng của các thượng tế, khuôn mặt dữ dằn của đám lính đánh đập, hành hạ, chế giễu và đóng đinh Chúa Giêsu, khuôn mặt nhiễu loạn la ó của đám đông đòi xử tử Giêsu, khuôn mặt thảng thốt đờ đẫn của Ximon thành Xirênê, khuôn mặt ràn rụa nước mắt của các môn đệ âm thầm theo Thầy Giêsu trên đoạn đường thương khó, khuôn mặt đau đớn xé lòng như bị gươm đâm của Mẹ Maria, khuôn mặt ngờ nghệch của vài em bé bên vệ đường, và nhiều khuôn mặt khác nữa…

Chàng thổn thức tự hỏi lòng: “Ðâu là khuôn mặt của tôi?” Câu hỏi này cứ gặm nhấm và dai dẳng theo chàng suốt buổi lễ cho tới khi về nhà. Nó theo chàng mãi suốt cả Tuần Thánh. Và chàng mất thật nhiều thời gian tự vấn trong Tuần Thánh đó mãi cho tới ngày Chúa Nhật Phục Sinh khi chàng và cả nhà cùng mừng lễ chung với bà con giáo xứ. Trong đêm Vọng Phục Sinh chàng cũng cứ miên man với câu hỏi ‘đâu là khuôn mặt của tôi?’ dù niềm vui Phục Sinh có giúp cho chàng phần nào nguôi ngoai với những trăn trở thiêng liêng. Trong ánh sáng Phục Sinh, chàng còn mường tượng chiêm ngắm được khuôn mặt vinh hiển khải hoàn của Giêsu đã chiến thắng tử thần để đem lại niềm tin và lẽ sống cho con người trong đó có chàng.

Tuần Thánh đó để lại trong chàng nhiều cảm nhận và cảm xúc. Tuần Thánh đó là Tuần Thánh ý nghĩa nhất của đời chàng. Trong Tuần Thánh đó, chàng ngụp lặn trong ân sủng, trong trăn trở, tiếc nuối, hồi tâm và đoan hứa. Chàng miên man mải miết đi tìm câu trả lời cho câu hỏi đâu là khuôn mặt của chàng trong biến cố Vượt Qua của Ðấng Cứu Thế mà chàng cùng cử hành với cộng đoàn. Chàng cùng hợp hoan với cộng đoàn cất lời ca vang khải hoàn Chúa Ðã Sống Lại Alleluia. Mẹ chàng đi lễ với chàng không còn nghe tiếng càm ràm như trước mỗi khi nhờ chàng chở mẹ tới nhà thờ. Chàng như đã chết với Ðức Kitô để cùng sống lại với Người. Chàng hăng say tham gia công tác của Cộng Ðoàn trong Tuần Thánh đó. Chàng còn sắp xếp dọn dẹp nhà cửa để Mừng Chúa Sống Lại. Vừa mừng Chúa Sống Lại vùa mừng chàng sống lại. Chàng tự hứa từ nay sẽ cố gắng sống thật tốt để đáp trả phần nào, chỉ phần nào thôi chứ không thể hoàn toàn được (chàng nghĩ như vậy), ân tình yêu thương Thiên Chúa đã dành riêng cho chàng qua cuộc sống, qua thân bằng quyến thuộc, qua bạn bè và từ những cảm nghiệm sâu kín trong tâm hồn.

Hết ‘Easter Holiday,’ chàng trở lại sở làm với tâm tình hân hoan khó tả. Chàng nhìn thấy nơi khuôn mặt của nhiều người cùng sở nét mệt mỏi pha lẫn tiếc nuối vì phải đi làm sau kỳ nghỉ. Họ thì vậy nhưng chàng khác thật nhiều. Chàng vui tươi và hăng say với công việc. Vì thế, ngày đầu ở sở làm chàng ‘bị’ nhờ vả khá nhiều. Và chàng vui vẻ chấp nhận. Nhưng chàng vẫn cứ thắc mắc tự hỏi lòng: “Không biết trên khuôn mặt của tôi có nét vui vẻ như trong lòng tôi hay không?” Vậy là câu hỏi chàng cảm nghiệm trong Chúa Nhật Lễ Lá tuần trước lại trở về: “Ðâu Là Khuôn Mặt Của Tôi?”

Chàng đi tìm câu trả lời cho chính bản thân qua những lần chia sẻ với người khác. Trước hết là chia sẻ với mẹ và mọi người trong gia đình. Ai nấy đều ngẩn tò te không hiểu rõ chàng đang nói gì. Nhất là mẹ chàng hồn nhiên sờ trán chàng và hỏi: “Ðầu óc con có vấn đề gì không con? Khuôn mặt của con là khuôn mặt của con có giống ai đâu mà hỏi mẹ đâu là khuôn mặt của con?” Nhưng chàng cũng vui vẻ chấp nhận lời nói kiểu ‘huề vốn’ đó của mẹ. Và hình như cả nhà cũng cùng chung ý nghĩ như mẹ vậy. Thế là chàng bắt đầu chia sẻ nhỏ to với vài người bạn thân quen. Cũng chỉ gặp một đáp ứng tương tự như mẹ và cả nhà mà thôi.

Cuối cùng chàng chạy đến chính Ðấng Cứu Thế: “Chúa ơi, soi sáng cho con thấy và cảm nhận được khuôn mặt của con hay khuôn mặt con cần có trong đời sống theo Chúa.” Chúa vẫn im lặng. Chàng chỉ biết tìm trong Kinh Thánh vì chàng nghĩ Thánh Kinh là lời Chúa nói cho con người. Kinh Thánh thì chàng không có. Chàng phải mượn cuốn Sách Lễ Giáo Dân của đứa em gái mở coi những bài đọc đó có nói gì không. Chàng thấy trong đó nhiều lời dạy hay lắm mà chẳng mang lại cho chàng chút gì ánh sáng cho câu hỏi đó cả. Tuy vậy, chàng cũng cảm thấu và nhớ ra được vài câu nói của Chúa Giêsu như là: “Người ta cứ dấu này mà nhận biết chúng con là môn đệ Thầy, là chúng con thương yêu nhau… Không có tình yêu nào cao trọng hơn tình yêu của người thí mạng vì người mình yêu… Thầy là cây nho, các con là ngành. Ngành nào kết hợp cùng cây sẽ sinh nhiều trái…” Và một số nữa mà chàng không nhớ rõ. Những câu nói này giúp chàng thẩm thấu được một điều mà chàng đã cảm nhận lần đầu tiên bước vào ngôi thánh đường cổ kính. Ðó là tình yêu cao vời Thiên Chúa dành cho chàng và, quan trọng và ý nghĩa hơn, là chàng được mời gọi để sống và loan truyền tình yêu đó, như chàng đã thốt lời ước nguyện cũng trong lần gặp Ðấng Cứu Thế ở nhà thờ đó. Chàng phân vân tự vấn: “Có phải khuôn mặt tôi cần có là khuôn mặt của tình yêu? Thế còn khuôn mặt của tôi trong đoàn người đi từ Giêrusalem đến Can Vê và sau đó ai về nhà nấy chờ biến cố bất ngờ sống lại của một người mang cái tên Giêsu hơn 2000 năm trước đây là khuôn mặt của ai, và là khuôn mặt nào???” Chàng ngồi xuống thinh lặng, rồi từ từ bước ra xe mở máy chạy thẳng tới ngôi nhà thờ cổ kính trước đây. Lúc đó là 4 giờ chiều của ngày Thứ Bảy sau Tuần Bát Nhật Phục Sinh.

Chàng ngồi trong nhà thờ đó cho đến giờ lễ, dự lễ và về nhà. Trên đường lái xe về nhà, chàng cảm nghiệm được thật sâu xa một thực tại về cái gọi là Khuôn Mặt. Khuôn mặt thể chất của chàng hoàn toàn độc nhất không ai có thể giống được. Còn khuôn mặt cho đời sống, đối với chàng, mang nhiều hình thái lắm. Có thể là khuôn mặt của quân lính, của các thượng tế, của Philatô, của Hêrôđê, của Giuđa, của Phêrô, của đám đông nhiễu loạn, và của nhiều người lắm. Cũng có thể lắm, là chàng phải cố gắng mang khuôn mặt của Giêsu, khuôn mặt của yêu thương, yêu thương thực sự tự trong đáy tâm hồn. Và người trả lời, hay chọn lựa, không ai khác hơn phải là chính chàng….

Về nhà, chàng cám ơn mẹ nhờ câu nói của mẹ, có thể là từ trong vô thức, để chàng cần phải quyết định và chọn lựa cho đời sống chàng một khuôn mặt thật ý nghĩa và hữu ích cho cuộc sống. Và bản chất của khuôn mặt đó không bao giờ được thay đổi, như là trong biến cố vào thành Giêrusalem năm xưa: mới hôm trước dân chúng mang khuôn mặt hớn hở vui mừng tôn vinh chúc danh ca tụng Vua Kitô, rồi chỉ mấy hôm sau thôi lại quay một vòng 180 độ đổi thành khuôn mặt dữ tợn la ó đòi đóng đinh xử tử chính người họ đã tung hô vạn tuế. Còn nữa, chàng cảm thấy cần phải liên lỉ bắt đầu lại (không phải chỉ Mùa Phục Sinh này thôi đâu) từng ngày trong suốt cuộc đời. Bằng không thì chàng lại phải chạy đôn chạy đáo đi tìm trả lời cho câu hỏi: “Ðâu Là Khuôn Mặt Của Tôi?”

Tuần Thánh và Phục Sinh 07